Lê Phổ là một trong những gương mặt tiêu biểu của nền mỹ thuật hiện đại Việt Nam và là thành viên khóa đầu tiên (1925–1930) của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (École des Beaux-Arts de l’Indochine – EBAI). Cùng với Mai Trung Thứ, Vũ Cao Đàm và Lê Thị Lựu, ông thuộc nhóm bốn họa sĩ nổi danh trời Âu (Phổ, Thứ, Lựu, Đàm)’ đã khẳng định vị thế của hội họa Việt trên trường quốc tế – một thế hệ kết hợp kỹ pháp phương Tây với tâm hồn Á Đông để kiến tạo bản sắc “Hội họa Đông Dương”.

Ngay từ thời sinh viên, thủ pháp của Lê Phổ được chú ý bởi các giảng viên và giới báo chí với những bức tranh giàu chất lượng trang trí có kiểu cách (précieuses qualités décoratives), biểu cảm sâu lắng và đề tài gắn liền với văn hoá An Nam. Nhà phê bình Waldemar George từng ví ông với một “họa sĩ siêu phàm”, người đã sáng tạo nên chốn thiên đường giữa trần gian, nơi những con đường Đông và Tây giao thoa.
Sau khi tốt nghiệp, ông được giữ lại làm giáo viên dạy vẽ tại trường EBAI và nhanh chóng được tin tưởng làm phụ tá cho Victor Tardieu – giám đốc nghệ thuật Toà Angkor tại Triển lãm Thuộc địa Paris năm 1931. Năm 1932, ông được cấp học bổng để học tại École des Beaux-Arts ở Paris, nơi ông có thể tận mắt chứng kiến những kiệt tác về kỹ thuật nghệ thuật của Pháp. Từ năm 1937, trong bối cảnh chiến tranh bùng nổ, Lê Phổ quyết định định cư tại Paris cho đến hết đời, mở ra một hành trình nghệ thuật phong phú, vượt qua các ranh giới địa lý. Ông làm việc với các phòng tranh danh tiếng như Galerie Romanet, Wally Findlay Galleries, triển lãm rộng rãi ở Algiers (1941), Brussels (1948), San Francisco (1962), New York (1963).
Theo Waldemar George (1970), sự nghiệp sáng tác của Lê Phổ có thể chia thành hai giai đoạn:
- Giai đoạn trước 1945 với những thực nghiệm học vấn hàn lâm, đậm nét cổ điển, ảnh hưởng từ tranh lụa Trung Hoa rồi dần dần bước qua tham chiếu hội họa Tiền Phục Hưng và trường phái Ấn tượng.
- Giai đoạn lãng mạn từ những năm 1950 khi ông bắt đầu chuyển sang sơn dầu, tích hợp cái hồn Trung Hoa cổ với kỹ pháp hậu ấn tượng để tạo nên màu sắc trữ tình đặc trưng.
Dù chỉ hoạt động tại Việt Nam chưa đến một thập kỷ, Lê Phổ đã để lại nhiều tác phẩm tiêu biểu bằng sơn dầu, tranh lụa và thử nghiệm sơn ta – cho thấy vai trò của ông như một cầu nối quan trọng giữa mỹ thuật Việt Nam với nền nghệ thuật quốc tế trong thế kỷ 20.











