Joseph-Marie Inguimberty là một trong những nhân vật tiên phong và có ảnh hưởng sâu sắc nhất trong lịch sử giáo dục nghệ thuật hiện đại tại Việt Nam. Sinh năm 1896 tại Marseille, Pháp, ông tốt nghiệp Trường Quốc gia Trang trí Nghệ thuật (École nationale supérieure des Arts Décoratifs) tại Paris và từng đoạt nhiều giải thưởng lớn, trong đó có Giải thưởng Blumenthal năm 1922 và Giải thưởng Quốc gia Pháp năm 1924. Những thành tích xuất sắc này đã thu hút sự chú ý của Victor Tardieu, người sáng lập Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (École des Beaux-Arts de l’Indochine – EBAI), và mời ông sang Hà Nội vào năm 1925 với tư cách là giảng viên bộ môn trang trí (art décoratif) và nặn tượng (modelage) tại trường EBAI lúc đó còn non trẻ.

Ngay từ những năm đầu tại Đông Dương, Inguimberty đã bộc lộ niềm đam mê mãnh liệt với thiên nhiên, ánh sáng, cảnh quan, và đời sống bản địa. Ông không giấu sự say mê trước những thửa ruộng, làng quê, vẻ đẹp bình dị của người dân An Nam – một cảm xúc mà ông đã chuyển tải bằng nét vẽ chắc khoẻ và bảng màu xanh rêu đặc trưng, trung tính và đầy sự am hiểu về địa hình. Nhà phê bình Nguyễn Quang Phòng cũng từng nhận xét về phong cách vẽ của “Inguimberty giống hệt như một họa sĩ Việt Nam, người am hiểu và yêu mến quê hương mình”. Dù ông có rất ít thời gian do việc dạy học, quang cảnh sinh hoạt làng quê, đồng lúa của ông luôn chất chứa chữ trung thực.
Không giống nhiều giảng viên phương Tây khác thời bấy giờ vốn thiên về lý thuyết hàn lâm, kinh viện như Victor Tardieu, Inguimberty chủ trương phương pháp dạy học gần gũi thực tế, luôn khuyến khích sinh viên quan sát, trực họa, và khai thác đời sống xung quanh làm chất liệu sáng tạo. Ông đặc biệt quan tâm đến yếu tố bản địa trong nghệ thuật, đồng thời định hướng các học trò phát triển cá tính sáng tạo riêng biệt. Dưới sự dẫn dắt của ông, nhiều sinh viên như Lê Phổ, Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Phan Chánh, Mai Trung Thứ, Tô Ngọc Vân hay Vũ Cao Đàm đã trở thành những tên tuổi hàng đầu trong mỹ thuật hiện đại Việt Nam. Trò của ông cũng hay gọi ông là “cụ I”, như một lời trìu mến dành cho người thầy.
Một trong những đóng góp lớn và bền vững của Inguimberty đối với nền nghệ thuật Việt Nam chính là vai trò tiên phong trong việc chuyển hóa sơn ta truyền thống thành chất liệu hội họa hiện đại. Năm 1927, ông là người đầu tiên đề xuất mở xưởng sơn mài trong khuôn viên trường, khích lệ sinh viên thử nghiệm với sơn ta trong tinh thần cách tân. Đến năm 1938, dưới thời hiệu trưởng Évariste Jonchère (1892-1956), bộ môn sơn mài chính thức được đưa vào giảng dạy với nghệ nhân Đinh Văn Thành (1898-1977) và nữ họa sĩ người Pháp Alix Aymé (1894-1989).
Chính những nỗ lực tiên phong của Inguimberty đã tạo tiền đề cho sự phát triển của chất liệu sơn mài từ nghệ thuật trang trí dân gian thành một phương tiện biểu đạt hiện đại – một trong những thành tựu nghệ thuật đặc sắc và đặc trưng nhất của mỹ thuật Việt Nam thế kỷ 20. Như họa sĩ Nguyễn Gia Trí – một trong những tên tuổi lớn nhất của dòng tranh sơn mài Việt Nam – từng thừa nhận vai trò không thể thay thế của người thầy:
“Nếu không có cụ I và bác phó Thành thì cũng không có sơn mài của tôi. Công đức của cụ I lớn lắm.” (Nguyễn Gia Trí, 01/08/1980).
Dương. Tác phẩm của ông thường phản ánh sự giao thoa giữa tinh thần tạo hình châu Âu và cảm quan Đông phương. Bức tranh “Hai thiếu nữ Việt Nam” (khoảng 1940–1943) là một ví dụ điển hình: đường nét khoẻ khoắn, bảng màu xanh rêu đậm đặc chất Inguimberty, và bố cục giản dị, mô tả chính xác đời sống tĩnh lặng nhưng sâu sắc của người Việt. Trong một bài viết đăng trên tạp chí L’Extrême Asie năm 1929, ông từng chia sẻ niềm yêu thích đặc biệt với làng Kim Liên (Hà Nội), nơi ông dựng một túp lều tranh để vẽ trực họa, sống cùng ánh sáng, hơi nước và con người nơi đây.
Sau khi rời Việt Nam, Inguimberty tiếp tục sáng tác tại Pháp nhưng không bao giờ nguôi ngoai tình cảm dành cho vùng đất phương Đông đã nuôi dưỡng nghệ thuật và tâm hồn ông suốt hơn một thập kỷ.












