(1892, Vienne - 1956, Paris)  

Évariste Jonchère

"Làm sơn mài như Nguyễn Gia Trí thì không mấy ai theo được."

- Quang Phòng, sách "Mỹ thuật hiện đại Việt Nam", 1996, p. 19-20
artist-evariste-jonchere-thumbnail
123
Giới thiệuLà nhà điêu khắc hàn lâm đoạt giải Prix de Rome, Évariste Jonchère đã bị say đắm bởi cảnh quan và văn hóa Đông Dương. Chuyến du hành nghiên cứu đã làm thay đổi thế giới quan nghệ thuật của ông, để rồi trong vai trò hiệu trưởng, ông dành trọn tâm huyết phát triển nghệ thuật Việt bằng cách hiện đại hóa giá trị truyền thống.

Vào cuối thế kỷ 19 – đầu thế kỷ 20, khi chủ nghĩa thực dân Pháp đang mở rộng ảnh hưởng khắp châu Á, phương Đông trở thành điểm đến hấp dẫn không chỉ với giới quân sự và hành chính mà còn với các văn-nghệ sĩ, nhiếp ảnh gia, học giả, nhà thám hiểm. Xét riêng về họa sĩ, một số như Victor Tardieu, Joseph Inguimberty, Évariste Jonchère đã ở lại, góp phần hình thành những nền tảng ban đầu của giáo dục nghệ thuật hiện đại ở Việt Nam.

Một lớp hội họa mỹ thuật Đông Dương

Được đào tạo bài bản tại Trường Mỹ thuật Paris (École nationale supérieure des beaux-arts) dưới hai bậc thầy Antonin Mercié (1845-1916; Đoạt giải Prix de Rome vào năm 1868) and Jean Boucher (1870-1939, Trao tặng huân chương Bắc Đẩu Bội tinh vào năm 1902), Évariste Jonchère là một trong những đại diện tiêu biểu của nền điêu khắc hàn lâm Pháp. Sinh thời ông sở hữu nhiều giải thưởng nghệ thuật cao quý, trong đó có giải thưởng danh giá nhất nước Pháp về mỹ thuật Prix de Rome vào năm 1925. Tiếp tục vào năm 1932, ông đoạt được giải thưởng Đông Dương và lần đầu tiên đặt chân đến vùng thuộc địa trong chuyến viễn du nghiên cứu theo quy chế của giải thưởng.

Kể đến những chuyến đi đến vùng thuộc địa, điều khoản này cũng phải kể đến công của Victor Tardieu, người sáng lập và hiệu trưởng đầu tiên của Trường Cao Đẳng Mỹ thuật Đông Dương (EBAI) vào năm 1925.

Nhận thấy sự suy đồi của nghệ thuật An Nam cổ đại ở thuộc địa, Victor Tardieu đã nảy ý muốn tuyển dụng các họa sĩ đoạt giải thưởng Đông Dương trong thời gian họ du hành đến thuộc địa cho mục đích giảng dạy và truyền cảm hứng cho người An Nam. Ngoài ra, ông cho rằng việc thay đổi giáo viên hàng năm sẽ còn tạo điều kiện cho sinh viên tiếp xúc với nhiều phong cách khác nhau, mang lại sự đa dạng trong giáo dục hội họa. Vì thế, ông đã tái cơ cấu tổ chức của giải thưởng: Trong 2 năm lưu trú tại Đông Dương, các nghệ sĩ Pháp có thể thoải mái du lịch, tích lũy tài liệu nghiên cứu về thuộc địa ở năm đầu tiên. Từ năm thứ hai, họ sẽ phải làm việc tại Trường EBAI . Nhờ đó, Jules Gustave Besson (1926), Paul-Émile Legouez (1927), Richard Virac (1928), Henri Dabadie (1929), Lucien Lièvre (1930), Louis Rollet (1931) nối tiếp nhau giảng dạy trong các lớp vẽ hình hoạ và sơn dầu. Tuy từ năm 1932 trở đi, điều kiện giảng dạy của các họa sĩ đoạt giải đã bị chính quyền bác bỏ, vẫn còn một số họa sĩ như Évariste Jonchère (1932) và Louis Bâte (1938) đã tham gia giảng dạy tại Đông Dương.

Trong hai năm lưu trú và nghiên cứu tại Đông Dương, Jonchère đã có nhiều chuyến đi thực địa tới Việt Nam và Lào – nơi có cảnh quan, chất liệu và văn hóa bản địa ảnh hưởng sâu sắc đến thế giới quan nghệ thuật của ông. Dù sau đó trở về Pháp, ông vẫn luôn mong muốn quay lại châu Á, và nguyện vọng ấy đã trở thành hiện thực khi ông được chính quyền thuộc địa bổ nhiệm làm hiệu trưởng Trường Mỹ thuật Đông Dương sau khi Victor Tardieu đột ngột qua đời vào năm 1937. Dưới thời Jonchère, mảng nghệ thuật ứng dụng và thủ công truyền thống được phát triển mạnh mẽ trái hẳn với khuynh hướng hàn lâm của Tardieu. Với sự ủng hộ từ chính quyền Pháp bấy giờ, những khóa học đào tạo mỹ nghệ như thiết kế đồ nội thất, kim hoàn, chạm trổ, trang trí trên thảm, đóng bìa sách cũng đồng thời được giới thiệu vào khoá học. Ý tưởng này đã được thể hoá bằng việc đổi tên trường Mỹ thuật Đông Dương (l’École des Beaux-Arts de l’Indochine) thành Trường Mỹ thuật và Nghệ thuật ứng dụng (l’Ecole supérieure des Beaux-Arts et des Arts appliqués de l’Indochine).

Ngoài ra, Évariste Jonchère cũng góp phần thành lập các phân hiệu tại Bắc Kỳ, Nam Kỳ và Campuchia, cùng với Hợp tác xã Nghệ sĩ Đông Dương (Société Coopérative des Artistes Indochinois) – một tổ chức nhằm hỗ trợ các nghệ sĩ bản địa và thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm thủ công dân gian. Đặc biệt, tranh sơn mài được đẩy mạnh để thích nghi và phát triển trong bối cảnh hiện đại gắn liền với thị trường nghệ thuật. Các họa sĩ như Trần Văn Cẩn, Nguyễn Khang, Nguyễn Gia Trí đều trưởng thành mạnh mẽ trong môi trường này. Nếu xét về mặt thương mại, nhiệm kỳ của Jonchère từ năm 1938 đến 1944 cũng chính là giai đoạn hưng thịnh nhất của nghệ thuật sơn mài Việt Nam.

Tuy nhiên, những thay đổi về nhà trường đã nhận được phản đổi từ nhiều học viên như Trần Văn Cẩn, Lưu Văn Sìn, Nguyễn Đỗ Cung. Nhà nghiên cứu Nora Taylor cũng từng nhận xét rằng những cải cách của Jonchère nhằm hướng nghệ thuật Việt Nam đến một hình thái hiện đại mang tính thuộc địa – trang trí, xuất khẩu được, và phi chính trị . Tuy nhiên, chính trong khuôn khổ ấy, nhiều nghệ sĩ Việt đã khẳng định được bản sắc sáng tạo độc lập, vượt qua các giới hạn của hệ thống thuộc địa. de Ménonville (2003) cho rằng những phản bác nhắm vào Jonchere hiện không còn liên quan, nhưng chính sự thay đổi trong lập trường đã tạo cơ sở cho một làn sóng phản đối chủ nghĩa thực dân có thể phát triển.

Trước những tranh luận sôi nổi về nghệ thuật và thủ công, di sản Jonchère để lại trong lịch sử mỹ thuật Việt Nam là một di sản đa tầng. Một mặt, phương pháp và tư tưởng của ông vẫn gắn bó chặt chẽ với cấu trúc quyền lực của chủ nghĩa thực dân, trong đó nghệ thuật bản địa được nhìn nhận qua lăng kính châu Âu. Mặt khác, ông là người thúc đẩy việc hiện đại hóa các hình thức nghệ thuật truyền thống, tạo nền tảng cho giáo dục mỹ thuật ứng dụng và đặc biệt là nâng cấp sơn mài từ một bộ môn thử nghiệm thành một môn học chính, ngang hàng với hội họa và điêu khắc.

Tác phẩm tiêu biểu

Các họa sĩ tiêu biểu khác