Sinh năm 1894 tại Marseille, Aymé học mỹ thuật và âm nhạc tại Viện bảo tồn Toulouse trước khi quyết định theo đuổi hội họa một cách chuyên nghiệp. Từ năm 1916, bà chuyển đến Paris học nghề dưới sự hướng dẫn của hai danh họa nổi George Desvallières (1861-1950) và đặc biệt là Maurice Denis (1870-1943) – họa sĩ tiên phong sáng lập trường phái Nabis và là cố vấn nghệ thuật quan trọng trong suốt sự nghiệp của bà.
Cuối năm 1921, Aymé chuyển đến Hà Nội định cư do công việc của chồng và nhanh chóng phải lòng với vùng đất, văn hoá cũng như con người ở thuộc địa. Trong một bức thư gửi cho thầy Denis, bà từng viết: “Con thấy đất nước này rất thú vị nhất là về màu sắc, và địa hình bằng phẳng với những cánh đồng lúa xanh mát trải dài đến tận chân trời, những loại cây cỏ thật đẹp như những cây đa, cây si với bộ rễ mọc từ cành xuống đất, hay những cây gạo lúc này đang đỏ rực hoa.”
Do không có bằng cấp từ một trường mỹ thuật chính quy, Aymé gặp nhiều khó khăn xin việc tại Bắc Kỳ mãi cho đến tận năm 1925, bà xin được một công việc giảng dạy tạm thời tại Trường Mỹ Nghệ Thực hành, khi đấy đang dưới thời Hiérholtz (1877-1948). Tại đây, bà dành nhiều thời gian ngoài dạy học để nghiên cứu chất liệu sơn mài, kỹ thuật khắc gỗ và in màu nước trong thời gian cộng tác cùng giáo sư người Nhật.
Trong những năm đầu ở thuộc địa, bà thường xuyên dành thời gian cho những cuộc viễn du khắp châu lục, từ Trung Quốc, Nhật Bản, Sri Lanka đến khắp liên bang Đông Dương. Đặc biệt tại Lào, bà không chỉ sinh sống, theo học mà còn tham gia thiết kế gian trưng bày Lào cho Triển lãm Thuộc địa tại Paris năm 1931. Cùng với đó là nhiều năm giảng dạy tại các cơ sở giáo dục: trường Quốc học Huế (1928), trường Trung học Albert Sarraut (1931), Trường Mỹ thuật Đông Dương vào năm 1935, sau đó quay lại lần nữa vào năm 1940 cho đến khi bà về Paris vào năm 1945. Tuy chưa rõ thời điểm bắt đầu và kết thúc, bà đã tham gia chia sẻ số giờ giảng dạy bộ môn hàn lâm (dessin d’académie) và nghệ thuật trang trí (art décoratif) với hai thầy Victor Tardieu (1870-1937) và Joseph Inguimberty (1896-1971).

Xét riêng về họa phẩm, cả hiệu trưởng Victor Tardieu hay Joseph Inguimberty, giảng viên bộ môn trang trí và là người khởi xướng cho nghệ thuật sơn mài, chưa bao giờ thực sự làm việc với sơn mài, giáo viên người Pháp duy nhất sử dụng phương tiện này lúc đấy là Alix Aymé.
Bà là một trong những người phương Tây đầu tiên tiếp cận và sử dụng sơn ta không như một kỹ thuật thủ công trang trí, mà như một chất liệu tạo hình độc lập mang tính mỹ thuật hiện đại. Từng cộng tác với giáo sư người Nhật và các nghệ nhân bản địa, trong đó có nghệ nhân Đinh Văn Thành (1898-1977), bà tìm hiểu quy trình phức tạp của kỹ thuật sơn ta truyền thống từ các làng nghề – từ làm vóc, pha màu, đánh bóng – để từ đó phát triển hướng tiếp cận mới cho tranh sơn mài. Tuy là dưới tác động của phong cách phương Tây, bà luôn nhấn mạnh sự phát triển của nghệ thuật sơn mài là thành quả tự nhiên của một dòng chảy văn hoá tốt tươi, được mài dũa qua bao thế hệ thợ làng nghề Việt Nam. hực hành sơn mài của Alix Aymé đã ảnh hưởng đến nhiều họa sĩ thuộc thế hệ đầu của mỹ thuật hiện đại Việt Nam như Nguyễn Gia Trí, Hoàng Tích Chù, Nguyễn Văn Tỵ, Nguyễn Tiến Chung, v.v.
Chịu ảnh hưởng từ Maurice Denis, các tác phẩm sơn mài và tranh lụa của Aymé mang phong cách phẳng lặng, nhẹ nhàng của trường phái Nabi và bản sắc văn hoá An Nam cổ đại mà bà yêu thích. Dường như luôn tránh xa phong cách biểu đạt thô sơ, phóng khoáng vốn là đặc trưng của xu hướng đương đại, kỹ thuật của bà rất nghiêm túc, trật tự, chứ không nên nhầm lẫn với sự khắc khổ. Các tác phẩm như Paysage hay Maternity phản ánh tinh thần giao thoa sâu sắc giữa phương Tây và phương Đông, giữa hoài niệm và hiện thực.
Dù quay về Pháp từ năm 1945, bà vẫn tiếp tục sáng tác tranh lụa và sơn mài cho đến cuối đời. Bà qua đời đúng vào sinh nhật 95 tuổi, khi đang đánh bóng một bức sơn mài cuối cùng – một chi tiết thể hiện tình yêu không dứt đối với chất liệu Á Đông đã gắn bó suốt đời bà.













